Bản Tuyên ngôn độc lập ra đời như thế nào?
Số nhà 48 Hàng Ngang vốn là hiệu buôn của gia đình tư sản yêu nước Trịnh Văn Bô, sau này trở thành nơi làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng vào những ngày tháng 8/1945. Chính tại căn phòng nhỏ giản dị trên tầng hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã miệt mài viết nên những dòng chữ bất hủ trong Bản Tuyên ngôn độc lập, kết tinh ý chí và khát vọng ngàn đời của dân tộc Việt Nam.
Bản Tuyên ngôn độc lập ra đời khi chúng ta mới giành được chính quyền nhưng đất nước vẫn còn bộn bề khó khăn, thù trong giặc ngoài. Thời gian viết cũng rất ngắn, từ ngày 26/8 cho đến 29/8, khi đó Chủ tịch Hồ Chí Minh đảm nhận việc viết và thông qua Ban Thường vụ Trung ương để hình thành nên bản tuyên bố cho sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là điều cực kỳ đặc biệt.
Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa nghiên cứu những áng hùng văn của nhân loại – Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1791 – vừa chắt lọc, sáng tạo để viết nên bản Tuyên ngôn của chính dân tộc mình. Bản Tuyên ngôn độc lập không chỉ là một văn kiện quan trọng, khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc ta, mà còn là một áng văn bất hủ, kết tinh tinh thần yêu nước, khát vọng tự do, và ý chí quật cường của nhân dân Việt Nam.
Bác Hồ của chúng ta đã có sự chuẩn bị từ lâu về những nội dung và tinh thần của Tuyên ngôn độc lập nên khi Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam ra đời, mặc dù không dài nhưng lập luận rất sắc bén, có cơ sở pháp lý và đi vào lòng người, ai nghe cũng thấu hiểu lý do tại sao chúng ta cần độc lập và phải cương quyết bảo vệ nền độc lập mới giành được đó.
Với lời lẽ giản dị, rõ ràng nhưng đanh thép, Tuyên ngôn khẳng định: "Một dân tộc đã gan góc chống lại ách nô lệ hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập". Tuyên ngôn độc lập kết thúc bằng quyết tâm sắt đá: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy".
Những di vật lịch sử
Trải qua 80 năm, không gian ngôi nhà số 48 Hàng Ngang vẫn còn lưu giữ nhiều hiện vật gắn bó với Bác và các đồng chí lãnh đạo cách mạng, như: bộ quần áo kaki, chiếc vali mây, di ảnh cùng những đồ dùng sinh hoạt giản dị. Đặc biệt, chiếc bàn dài màu cánh gián với 8 chiếc ghế tựa hai bên vẫn còn nguyên vẹn. Đây là những đồ vật chứng kiến giờ phút lịch sử mà từ đó, vận mệnh dân tộc rẽ sang một trang mới.
Cùng với sự gìn giữ nguyên trạng, di tích còn được bổ sung các phương thức trưng bày hiện đại. Bằng công nghệ trình chiếu mapping, thực tế ảo VR hay hologram, những kỷ vật của lịch sử như được “sống lại”, giúp công chúng hình dung chân thực bầu không khí của mùa thu cách mạng năm 1945. Chính nhờ cách tiếp cận này, thế hệ trẻ hôm nay thêm cơ hội tìm hiểu, gắn bó và tự hào hơn về lịch sử dân tộc.
Không gian tưởng niệm trong di tích còn dành một vị trí trang trọng làm phòng thờ Bác, được bài trí theo phong cách truyền thống, như lời nhắc nhở về công lao to lớn và vai trò vĩ đại của Người trong sự nghiệp giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. 80 năm sau ngày 2/9/1945, những di vật lịch sử tại ngôi nhà 48 Hàng Ngang vẫn giữ nguyên giá trị. Không chỉ là chứng nhân của một thời khắc lịch sử, đó còn là bài học sinh động về khát vọng độc lập, tự do và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.
Tuyên ngôn độc lập: Giá trị lịch sử vượt thời đại
Với hơn 1.000 từ, Bản Tuyên ngôn độc lập là văn kiện lịch sử đặc biệt, văn bản chính trị - pháp lý đầu tiên trong hệ thống văn kiện chính trị - pháp lý của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 được coi là bản Tuyên ngôn thứ ba trong lịch sử về quyền tự chủ của dân tộc Việt Nam.
Tư tưởng giá trị cốt lõi, xuyên suốt trong Bản Tuyên ngôn là sự khát khao về một đất nước độc lập, tự do; là cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân; là ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất, quyết tâm sắt đá để bảo vệ độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc. Trong bối cảnh cả dân tộc đang vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình, tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường, khát vọng hòa bình, nhân quyền và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc của Tuyên ngôn độc lập vẫn vẹn nguyên giá trị.
Khát vọng hòa bình – tinh thần bất diệt của Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 đã có ý nghĩa lớn lao, khơi dậy lòng tự hào dân tộc của thế hệ trẻ hôm nay. Đó sẽ là kim chỉ nam và nguồn sức mạnh tinh thần vô giá để thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước – vững bước trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
80 năm trôi qua, tư tưởng vượt thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 đã trở thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện lời thề thiêng liêng trong ngày lễ Độc lập: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Tuyên ngôn độc lập không chỉ là một văn bản chính trị, mà là biểu tượng bất diệt của ý chí độc lập, khát vọng tự do. Từ bản Tuyên ngôn bất hủ năm 1945, khát vọng độc lập, tự do vẫn luôn soi sáng và đồng hành cùng con đường phát triển của đất nước hôm nay.