Thời điểm lúc bấy giờ, Liên Xô và các nước Đồng minh vừa mới chiến thắng trong chiến tranh thế giới thứ II. Phát xít Đức, Ý, Nhật đầu hàng. Thời điểm ấy, trừ Việt Nam, tất cả các nước thuộc địa vẫn "quằn quại" trong xiềng xích thực dân. Đất nước ta gần một thế kỷ dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, rồi của Nhật đã kiệt quệ và vừa mới bị nạn trận đói rùng rợn cướp đi gần hai triệu sinh mạng người dân việt Nam.
Thực dân Pháp được sự ủng hộ của các lực lượng phản động trong Chính phủ Mỹ, Anh đang tìm mọi cách quay trở lại Việt Nam. Bộ máy Nhà nước của chúng ta vào lúc đó tất cả đều rất thiếu.

Bản Tuyên ngôn Độc lập của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Nước Việt Nam mới, non trẻ, thành quả của Cách Mạng Tháng Tám, thật sự đứng trước khó khăn về nhiều mặt.
Nhìn rõ điều ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh một mặt ráo riết chuẩn bị về quân sự và tinh thần… để kháng chiến lâu dài; mặt khác chuẩn bị việc tuyên bố về nền độc lập của nước Việt Nam trước toàn thế giới. Vì vậy, Tuyên ngôn Độc lập trong bối cảnh đó, đóng vai trò trọng đại. Nó phải thuyết phục được các nước trên toàn thế giới về pháp lý của nước Việt Nam độc lập cả về thực tiễn và lý luận. Đây là nhiệm vụ lịch sử to lớn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành thời gian suy nghĩ về những nội dung cần thiết để thể hiện trong Tuyên ngôn Độc lập. Người tự tay viết và đánh máy bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam và ngay dòng đầu của Bản Tuyên ngôn, Người đã đưa ra một chân lý trong Tuyên Ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Sự vững chắc về pháp lý và lý luận ở đây là ở chỗ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dựa vào chân lý về quyền bình đẳng tự nhiên của mỗi con người để phát triển lên thành một chân lý về quyền bình đẳng tự nhiên của mỗi dân tộc. Người Viết: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
Như vậy, ngay phần đầu của Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định được về pháp lý và lý luận theo lẽ tự nhiên tất cả của dân tộc sinh ra đều có quyền bình đẳng. Đây là một sáng tạo của Người về lý luận cách mạng giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa thực dân.
Trước Hồ Chí Minh, chưa có một ai dù ở Âu Châu và cả thế giới đưa ra được một sự tổng kết lý luận về quyền bình đẳng của các dân tộc như Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập. Cách mạng giải phóng dân tộc Mỹ chỉ nhấn mạnh về quyền con người, Cách mạng Pháp cũng chỉ nhấn mạnh vào quyền con người và quyền công dân.
Để bổ sung cho nguyên tắc pháp lý và lý luận ấy của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn ra một câu trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.
Người kết luận những điều đó là những lẽ phải không ai chối cãi được; các nước trên toàn thế giới đều được Độc lập, tự do và bình đẳng.
Đến đây, dựa trên nền tảng pháp lý và lý luận nói trên, Người đã chỉ ra rằng suốt hơn 80 năm đô hộ Việt Nam, thực dân Pháp đã giày xéo lên chính những lời được trịnh trọng ghi trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 và giày xéo lên tinh thần và lời văn của Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Cách mạng giải phóng dân tộc Mỹ.
Người đưa ra những bằng chứng vừa khái quát vừa cụ thể, vừa hùng hồn và xót xa về những hành động vô nhân đạo của thực dân Pháp về chính trị, về kinh tế… tại Việt Nam và các nước thuộc địa Pháp. Người viết: “Chúng lập ra nhiều nhà tù hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước, thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta trong các bể máu. Và chúng bóc lột nhân dân ta đến tận tuỷ. Khiến cho nhân dân ta nghèo nàn, lạc hậu, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều”.
Vẫn hướng đưa ra những bằng cớ để tố cáo, Tuyên ngôn Độc lập nhắc lại lịch sử Việt Nam những năm trước năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tố cáo trước thế giới rằng từ mùa thu năm 1940, thực dân Pháp đã bán Việt Nam cho phát xít Nhật và như vậy, suốt 5 năm trước Cách mạng Tháng Tám, dưới hai tầng áp bức, xiềng xích của Nhật và Pháp: “Dân ta ngày càng cực khổ và nghèo nàn, và từ cuối năm 1944 đến đầu năm 1945, hơn hai triệu đồng bào ta đã bị chết đói”.
Qua những bằng cớ ấy, Hồ Chí Minh đã phân tích và lập luận một cách chặt chẽ và cụ thể rằng: “Trong 5 năm thực dân Pháp đã bán nước ta hai lần cho Nhật”. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Sự thực từ mùa thu 1940, nước ta đã trở thành thuộc địa của Nhật chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa”.
Và Người khẳng định: “Sự thật dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp”.
Xác định như vậy để cho nhân dân thế giới hiểu rằng nhân dân Việt Nam đã cùng các nước Đồng minh, trong đó có Pháp, đánh tan phát xít Đức, Ý, Nhật và không thể vin vào bất cứ lý do nào để từ chối việc thừa nhận nền Độc lập Dân tộc của nhân dân Việt Nam – Việt Nam là thuộc địa của Nhật và giành lại quyền Độc lập từ tay Nhật.
Như thế cũng có nghĩa là các mặt pháp lý, lý luận và thực tiễn Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam vững chắc và phù hợp với nguyên tắc Độc lập dân tộc mà phe Đồng minh, trong đó có Pháp đã nêu lên.
Đến đây, Tuyên ngôn Độc lập đã có đủ điều kiện pháp lý và thực tiễn, lý luận để chính thức tuyên bố trước toàn thế giới về nền Độc lập thực sự của nước Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.
Đanh thép và quyết liệt, khẳng khái và chân thành Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Một dân tộc đã gan góc chống lại ách thống trị nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm. Một dân tộc gan góc đã đứng về phe đồng minh chống lại phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc ấy phải được độc lập”.
Ánh sáng rực rỡ nhất của bản Tuyên ngôn Độc lập tập trung ở đoạn cuối cùng. Đây là đoạn văn bản cô đọng nhất, hùng tráng nhất, bi phẫn nhất của Tuyên ngôn Độc lập, là lời tuyên bố chính thức và toàn diện của toàn thể nhân dân Việt Nam về nền Độc lập của Tổ quốc mình: “Với những lý lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà trịnh trọng, tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết tâm đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy ”.
Lời trịnh trọng tuyên bố này đã khẳng định ba vấn đề lớn:
Thứ nhất, quyền được hưởng tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam
Thứ hai, sự xuất hiện trên thực tế một nước Việt Nam tự do và độc lập.
Thứ ba, quyết tâm phi thường của dân tộc Việt Nam để bảo vệ quyền tự do, độc lập đó.
Đoạn cuối cùng chính là linh hồn của toàn bản Tuyên ngôn Độc lập về quyền dân tộc của chúng ta.
Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam cũng là tuyên ngôn của tất cả các dân tộc bị áp bức đang vùng dậy.
Đóng góp quan trọng nhất của Tuyên ngôn Độc lập là sự khẳng định về quyền bình đẳng tự nhiên của bất cứ dân tộc nào, quyền hưởng tự do và độc lập của tất cả các dân tộc trên hành tinh của chúng ta.
80 năm qua, để giữ vững nền độc lập, tự do ấy, nhân dân Việt Nam đã trải qua 30 năm kháng chiến gian khổ, nhưng oai hùng; những năm tháng cấm vận, bao vây kinh tế.
Đi lên Chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử Việt Nam.
Gần 40 năm đổi mới đất nước, Việt Nam đã nâng cao vị trí của mình trên thế giới, là đối tác tin cậy, là bạn bè của các nước trên khắp năm châu. Đời sống của nhân dân được ấm no và hạnh phúc trong hoà bình.
Ngày 2/9 năm nay, Kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công, 80 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cũng là 80 năm bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời. Tuyên ngôn Độc lập không đơn thuần là nghi thức kỷ niệm ngày chiến thắng và Độc lập của dân tộc Việt Nam mà đó là bản Tuyên ngôn tuyên bố với thế giới về một thời đại mới trong lịch sử Việt Nam, là tuyên ngôn về chiến lược chiến tranh nhân dân và trong mỗi người dân, đó chính là khí tài, là sức mạnh bảo vệ nền Độc lập của một dân tộc yêu chuộng hoà bình.